Skip to main content

Di tích đồn lỹ trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế

Khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo là một trong những cuộc khởi nghĩa chống Pháp mạnh mẽ nhất ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và kéo dài gần 30 năm từ 1884- 1913. Dự vào núi rừng hiểm trở vùng thượng Yên Thế (Yên Thế ngày nay), nghĩa quân đã xây dưng hệ thống đồn luỹ sẵn sàng đương đầu với giặc trong thế phòng ngự tích cực trong nhiều năm ròng rã. Một mặt hạn chế được lực lượng mạnh của kẻ thù, mặt khác khắc phục được chỗ yếu của mình để tiến lên mở rộng phong trào chống Pháp. Một trong những đồn luỹ tiêu biểu của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám là căn cứ Phồn Xương (đồn Phồn Xương), căn cứ Hố Chuối (đồn Hố Chuối) và căn cứ Khám Nghè…

Căn cứ Phồn Xương được xây dựng vào khoảng 1894-1895, bao gồm đồn chính Phồn Xương và các đồn phụ Am Đông, Hố Lầy, công sự Tổ Cú, đồn Cả Can, bao quanh địa bàn 2 xã Phồn Xương và Tân Hiệp. Đồn chính Phồn Xương còn có tên gọi là đồn Gồ, đồn Cụ, nằm ở phía nam của một quả đồi cao gần 20m, cách suối Gồ về phía nam gần 800m. Đây là một căn cứ có quy mô lớn, cấu trúc khác với đồn Hố Chuối và các đồn khác. Đồn gần giống hình chữ nhật, nằm dọc theo hướng bắc nam, có diện tích chừng hơn một mẫu, bao gồm hai vòng thành. Vòng thành ngoài bắt đầu từ sườn đồi phía đông, chạy vòng ôm lấy chân đồi, lên tới đỉnh đồi, dày 0,80m và cao 4 mét. Dãy tường thành nội nằm trên đỉnh ngọn đồi, gần giồng hình chữ nhật. Tường thành nội, mặt đông dài 71m, mặt bắc 85m. Tường đắp bằng đất nện, chân dày 2m, cao 3m, trên mặt tường còn dày 1m. Bên trong tường thành có ba cấp khác nhau, có thể đứng hoặc quỳ, nằm đều bắn được. Xung quanh tường có lỗ châu mai. Mặt tường phía ngoài đắp dốc thoải thoải như mái nhà. Khoảng cách giữa hai vòng thành chỗ rộng nhất là 20m, hẹp nhất là 10m. Đồn có 3 cổng. Trong đồn là hệ thống nhà ở, nhà khách và nhà kho. Tất cả đều là nhà tranh vách đất trộn rơm. Riêng nhà vuông tiếp khách được xây dựng bằng gạch. Tại đây, nghĩa quan đã chiến đấu dũng cảm chống lại cuộc tấn công trên quy mô lớn của thực dân Pháp do tên đại tá Vát-tay chỉ huy.

Căn cứ Hố Chuối (đồn Hố Chuối - đồn của tử thần). Căn cứ Hố Chuối bao gồm đồn chính và hai đồn phụ ở phía nam. Ngoài ra còn có các đồn luỹ khác ở xung quanh như đồn làng Vàng, làng Nứa, Chỉ Choè ở phía đông. Làng Thuông ở phía bắc. Làng Mạc ở phía tây và đồn Vòng Dông thuộc xã Tân Sỏi ở phía nam. Tất cà tạo thành một cụm cứ điểm chiến đấu liên hoàn, hỗ trợ cho nhau. Căn cứ được xây dựng vào khoảng 1887-1888, sau này tiếp tục được củng cố, tu sửa vào các năm 1892 -1894. Chọn Hố Chuối để xây dựng căn cứ, có thể nói nghĩa quân Yên Thế đã biết lợi dụng triệt để những điều kiện thuận lợi của địa hình để phục vụ cho chiến đấu. Đồn chính Hố Chuối là vị trí trung tâm của khu căn cứ nằm trên một gò đất thấp nổi giữa thung lũng. Đồn hình chữ nhật chiều dài 56m, chiều rộng 45m, nằm theo hướng đông bắc, con suối Gồ chảy sát chân thành phía đông. Diện tích 2.520m vuông, tương đương 7 sào bắc bộ. Đôn xây dựng quy mô như một chiếc thành. Tường luỹ xung quanh được đắp chặt chẽ bằng đất pha cát. Ngoài đồn chính còn có đồn phụ ở phía bắc gọi là pháo đài bắc, ở phía nam gọi là pháo đài nam. Cả 3 đồn chính, đồn phụ, tạo thành thế chân vạc hỗ trợ cho nhau. Ngoài ra nghĩa quân còn đào nhiều công sự, hố chông, ổ chiến đấu chằng chịt khắp nèo rừng xung quanh Hố Chuối. Tại đây nghĩa quân đã liên tiếp đánh lui 4 cuộc tân công của Pháp là ngày 9, 10, 21/12/1890 và ngày 02/01/1891 diệt hàng trăm lính, nhiều hạ sĩ quan và sĩ quan đã phải bỏ mạng tại đây.
Căn cứ Khám Nghè. Bao gồm một hệ thống 7 đồn nằm dọc bờ sông Sỏi, dựa lưng vào dãy núi Cai Kinh và án ngữ trên còn đường từ Bố Hạ qua Đồng Kỳ đi Mỏ Trạng ngày nay. Đồn chính Khám Nghè gọi là đồn số 1 do Đề Nắm đóng giữ. Tiếp đến là đồn Đề Lâm số 2. Đồn Đề Hậu hay Đề Truật số 3. Đồn Đề Trung số 4. Đồn Đề Dương hay Đề Thám số 5. Đồn Tổng Tài số 6. Đồn Bá Phức số 7. Riêng đồn Đề Dương hay đồn Hom là ở phía tây của căn cứ, bao gồm hàng loạt các đồn phụ khác, tạo thành cụm cứ điểm riêng biệt. Hệ thông 7 đồn này do Đề Nắm chỉ huy, lần đầu xây dựng vào năm 1891. Sau đó tiếp tục được đề Thám cho củng cố một số căn cứ quan trọng.
Ngoài các căn cứ trên, Đề Thám còn cho xây dựng và củng cố lại một số căn cứ đồn luỹ và công sự chiến đấu dự phòng như đồn Đèn, đồn Đề Hậu, đồn Khám Nghè, sau này do Cả Dinh, Cả Huỳnh và Bà Ba đóng giữ thuộc xã Đồng Vương. Đồn Trại Tre, Trại Phăng, đồn Hà Triều Nguyệt, đồn Lý Thu, đồn Tú Nghệ… và hàng loạt các làng chiến đấu trong vùng Yên Thế. Ngoài ra, trên các đỉnh núi cao, rừng rậm thuộc các xã Tam Tiến, Xuân Lương, Tiến Thắng… nghĩa quân cũng đào nhiều công sự chiến đấu hình bầu dục, hình tròn hoặc hình vòng cung được bố trí theo các tuyến đường: Tuyến Mở Trạng -  Xuân Lương, Xuân Lương - Rừng Phe, Rừng Phe - Suối Cấy… Hầu hết các công sự chiến đấu này đã diễn ra nhiều trận đánh các liệt. Đặc biệt Rừng Phe xã Tam Tiến, dựa vào công sự và rừng cây rậm rạp, nghĩa quân đã dũng cảm chiến đấu với quân địch, trong chiến dịch càn quét tháng 02/1909…
Trải qua thời gian cùng sự biến động của lịch sử và sự tác động của con người, nhiều tích đồn luỹ của cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đã không còn. Song trong tương lai nếu được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư, phục dựng hệ thống đồn luỹ của cuộc khởi nghĩa cùng với cụm di tích lịch sử Hoàng Hoa Thám hiện nay sẽ trở thành một điểm thăm quan, học tập hấp dẫn du khách thập phương cũng như phục vụ việc tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa và vùng đất Yên Thế anh hùng./.
                            Nông Văn Tuyển (sưu tầm)