Skip to main content

Hoàng Hoa Thám thủ lĩnh tài ba

Hàng năm vào ngày 16/3 (dương lịch) nhân dân khắp nơi lại đổ về dự lễ hội Yên Thế để tưởng nhớ người anh hùng áo vải Hoàng Hoá Thám thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống lại thực dân Pháp ngót 30 năm từ 1884-1913.

Xuất thân trong một gia đình nông dân có truyền thống đấu tranh chống phong kiến, Hoàng Hoa Thám mồ côi cha mẹ từ nhỏ, trú quán tại làng Trũng tổng Ngọc Cục huyện Yên Thế (nay là Ngọc Châu- Tân Yên). Lúc nhỏ phải đi ở và làm thuê cho nhiều gia đình giàu có, rồi sau đó làm con nuôi Bá Phức là cai tổng Ngọc Cục. Do phải trải qua một thời niên thiếu đầy gian nan, vất vả, ông sớm thể hiện tài năng về chiến trận và được bạn bè kính nể, mến phục. Một lần, đám trẻ làng Am cậy đông đuổi đánh lũ trẻ làng Trũng. Trẻ làng Trũng thua chạy. Hôm sau Thám bày cách cho đám trẻ làng Trũng giã ớt trộn với cát khô nhồi đầy trong các ống nứa để đi đánh nhau. Quả nhiên khi trẻ làng Am tấn công rát, trẻ làng Trũng đã tung hoả mù phản công lại. Trẻ làng Am, phải thua chạy...

Ngoài 20 tuổi, Hoàng Hoa Thám mang tên là Đề Dương tham gia cuộc khởi nghĩa do Đại Trận lãnh đạo chống lại ách áp bức, bóc lột của triều đình phong kiến phản động và trở thành vị thủ lĩnh xuất sắc của phong trào.
Mùa xuân năm 1882, Đề Dương tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp của các tầng lớp sỹ phu Bắc Ninh. Sau đó tham gia cuộc khởi nghĩa của Cai Kinh (tức Hoàng Đình Kinh tại Hữu Lũng) vì được mến mộ tài nghĩa nên ông được mang họ Hoàng và có tên là Hoàng Hoa Thám từ đó.
Tháng 7/1885, Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, Đề Thám trở lại quê hương tham gia phong trào khởi nghĩa Yên Thế do Đề Nắm lãnh đạo. Đề Thám đã nhanh chóng tỏ rõ tài năng ở nhiều lĩnh vực và chiếm được uy tín ngày càng cao trong hàng ngũ nghĩa quân, ông đã tích cực cùng với Đề Nắm xây dựng căn cứ Hố Chuối, Đồn Hom và đã cùng nghĩa quân liên tiếp tổ chức những trận đánh và thắng lớn ở Luộc Hạ, Hố Chuối, Đồn Hom, Đồn khám Nghè.. làm cho giặc Pháp phải thất điên bát đảo, chúng phải mệnh danh đồn Hố Chuối là "Đồn của thân chết".
Năm 1892, Đề Nắm bị sát hại. Đề Thám chính thức nhận chức tổng chỉ huy cuộc khởi nghĩa và làm lễ tế cờ tại đình làng Đông (Việt Yên) vào cuối năm 1892. Kể từ đây Đề Thám thực sự trở thành thủ lĩnh và linh hồn của cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Với tài năng quân sự lỗi lạc của mình, ông đã dựa vào núi rừng để tổ chức nhiều trận đánh gan dạ và táo bạo, làm cho giặc Pháp phải bao phen bạt vía, kinh hồn. Vốn là người thông minh, sáng tạo Đề Thám đã bắt tay vào củng cố hàng ngũ lãnh đạo nghĩa quân thật vững mạnh, chiêu mộ, thu nạp thêm binh sỹ, xây dựng lực lượng chiến đấu hùng hậu. Tiếp tục xây dựng hệ thống đồn luỹ ở Phồn Xương và khắp vùng Yên Thế làm căn cứ kiên cố cho cuộc khởi nghĩa. Ngoài ra ông còn mở rộng địa bàn hoạt động ra các vùng Thái Nguyên, Tam Đảo, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội. Bên cạnh đó, ông còn chủ trương liên hệ rộng rãi với Đảng Nghĩa Hưng, với nhà chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu... nhằm tăng cường sức mạnh về chiến lược và quân sự và trù tính kế hoạch tổ chức lực lượng khởi nghĩa khắp các vùng từ Nghệ An, Thanh Hoá... trở ra để giành quyền kiểm soát đất đai từ tay thực dân Pháp. Mở đầu cho chiến dịch này là vụ đầu độc lính Pháp và lính Việt ở Hà Thành để chiếm Hà Nội. Do chưa chuẩn bị kỹ nên vụ đầu độc không thành công, song gây cho thực dân Pháp nhiều thiệt hại, bị lung lạc về tinh thần.
Ngoài ra Đề Thám còn cho quân tổ chức nhiều trận phục kích chặn đánh các đoàn vận chuyển của Pháp để cướp lượng thực, vũ khí trang bị cho nghĩa quân. Trong một trận phục kích nghĩa quân đã bắt được tên chủ bút tờ báo Tương lai xứ Bắc Kỳ và chủ đồn điền người pháp là Séc -Nay và tuỳ tùng là Lơ- Ghiu. Buộc pháp phải đổi 15 hòm bạc trắng để chuộc lại.
Với tài trí quân sự của mình Hoàng Hoa Thám đã buộc Pháp phải ký hoà hoãn 2 lần với nghĩa quân và trao cho ông toàn quyền cai quản một khu rộng lớn của vùng Yên Thế. Chính trong thời kỳ này, Đề Thám đã tăng cường khai hoang sản xuất, đảm bảo đời sống và tích luỹ lương thực, vũ khí đạn dược, chuẩn bị sẵn sàng cho một trận chiến đấu lâu dài.
Tuy vậy, bằng nhiều âm mưu hèn hạ và thâm độc, thực dân Pháp tìm đủ mọi cách để đầu độc, giết hại Đề Thám, không thành chúng đã lợi dụng thời kỳ hoà hoàn để mở đường giao thông, xây dựng đồn bốt, dò la tìm hiểu lực lượng và bố phòng của nghĩa quân. Năm 1909, thực dân Pháp đã tráo trở bội ước và tập trung lực lượng lớn với đội quân tinh nhuệ và vũ khí hiện đại tấn công ồ ạt vào Yên Thế tiêu diệt nghĩa quân.
Do sự trênh lệch quá lớn về tiềm lực chiến đấu, lại chưa có 1 đường lối đúng đắn dẫn đường. Trước sức mạnh to lớn của kẻ thủ, nghĩa quân đã dần bị hao tổn lực lượng. Mặc dù vậy dựa vào địa thế núi rừng và 1 địa bàn phía Bắc rộng lớn. Hoàng Hoa Thám đã cùng nghĩa quân tiếp tục chiến đấu nhiều trận oanh liệt ở Phồn Xương, Sơn Quả- Đồn Đèn, Hàm Lợn- Giản Ngoại, Làng Lầy, Vệ Linh, Lập Chi, Xuân Lai, Hiền Lương, Minh Bắc, Núi Sáng.. gây cho địch nhiều rối ren, thiệt hại. Cuối cùng chỉ còn bên mình hai thủ hạ, Đề Thám không còn đủ sức chống chọi với quân giặc, mạnh gấp bội lần, chúng lại dùng thủ đoạn hèn hạ để ám sát. Đề Thám đã anh dũng huy sinh. Đó là ngày mùng 5 tết Quý  Sửu, tức ngày 10 tháng 2 năm 1913. Cuộc Khởi nghĩa đến đây chấm dứt.
 Để tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám, năm 1984, nhân kỷ niệm 100 năm cuộc khởi nghĩa Yên Thế được sự quan tâm hỗ trợ của tỉnh, Bộ Văn hoá- Thông tin, huyện Yên Thế đã tiến hành xây dựng khu nhà lưu niệm cuộc khởi Yên Thế và tượng đài Hoàng Hoa Thám tại khu di tích lịch sử Phồn Xương và ngày 16/3 (dương lịch) hàng năm là ngày tổ chức lễ hội Yên Thế. Cuộc khởi nghĩa do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo chấm dứt đến nay đã hơn một thế kỷ song hình ảnh vị thủ lĩch áo nâu thông minh, tài ba, gan dạ vẫn còn khắc ghi trong tâm hồn và tình cảm của mỗi người dân Bắc Giang nói chung và nhân dân các dân tộc Yên Thế nói riêng; hình ảnh đó không chỉ là biểu tượng anh hùng giữ nước mà còn là biểu tượng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc./.


                                                    Nông Văn Tuyển
                                                           (Sưu tầm)