Skip to main content

Thủ lĩnh Đề Thám

Xuất thân từ một người cố nông nghèo khổ, được sống trong một khung cảnh tự do của vùng Yên Thế, Đề Thám không thể chấp nhận cảnh sống nô lệ, cá chậu chim lồng, làm tay sai cho ngoại bang. Thực dân Pháp, kẻ muốn bắt tất cả nhân dân Việt Nam làm nô lệ, cũng chính là kẻ thù số một của Đề Thám. Suy nghĩ và hành động đó của Đề Thám có thể còn có mặt hạn chế về chiều sâu của nhận thức, nhưng phù hợp với yêu cầu chống xâm lược, bảo vệ độc lập tự do của dân tộc. Trong cuộc đời chiến đấu của mình, có những lúc khó khăn ông phải tạm hoà với Pháp, nhưng bao giờ cũng với điều kiện danh dự, tức là không bị mất tự do. Trong cuộc giảng hoà lần thứ nhất (1894), Đề Thám đòi được làm chủ 4 tổng Hữu Thượng, Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, tức gần hết vùng Thượng Yên Thế. Như thế cũng có nghĩa là ông vẫn làm chủ vùng này. Ở cuộc giảng hoà lần thứ hai (1897), trong một thế tương quan lực lượng bất lợi, ông vẫn tìm được giải pháp giữ được tự do của mình, bằng cách buộc Pháp phải công nhận ông được phép khẩn hoang ở Phồn Xương, được giữ 25 tay súng bảo vệ đất đai của mình như các tên điền chủ Pháp ở trong vùng. Trong 11 năm tạm giảng hoà, thực dân Pháp tìm mọi cách để hạ uy tín của ông, thủ tiêu tự do của ông, nhưng ông vẫn tỉnh táo và kiên quyết giữ vững. Đến khi Pháp bội ước phản công, ông sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến đấu và đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Đề Thám bị thực dân Pháp liệt vào danh sách những kẻ tử thù, Đề Thám cũng không bao giờ thấy có thể đội trời chung với chúng. Những cuộc hành quân đốt phá, chém giết tàn bạo của thực dân Pháp trong vùng gây đau thương cho nhân dân Yên Thế và cho cả những người thân, khiến lòng căm thù giặc càng thêm nung nấu. Lòng căm thù ấy giúp Đề Thám thường xuyên cảnh giác đối với chúng. Nhờ đó Đề Thám đã vượt qua được những âm mưu xảo quyệt của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai.

Đối với địch thì như vậy, nhưng đối với nghĩa quân và nhân dân lao động trong vùng và từ các nơi đến, Đề Thám có một sự yêu thương và thông cảm sâu sắc. Đối với nghĩa quân, Đề Thám đối xử chân tình, bình đẳng và hết lòng chăm sóc khi ốm đau cũng như khi gia đình gặp khó khăn với tinh thần ''Phúc cùng hưởng, hoạ cùng lo''. Nghĩa quân và nhân dân lao động ở vùng khác đến nương tựa, ông sẵn sàng che chở, đùm bọc.
Mặc dù có trong tay sức mạnh, trong mấy chục năm, Đề Thám không bao giờ lạm dụng để trấn áp hoặc sách nhiễu nhân dân. Ông trừng trị nghiêm khắc bất cứ nghĩa quân nào, bất cứ ai làm tổn hại đến quyền lợi của nhân dân hoặc tình hoà hiếu giữa nhân dân với nghĩa quân. Không những thế, Đề Thám còn luôn luôn có ý thức chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng với nhân dân trong vùng, ông thường xuyên đi lại, thăm hỏi hoà mình với nhân dân, bên lương cũng như bên giáo, sẵn sàng bỏ tiền bạc riêng để giúp một số làng tu bổ chùa chiền (Làng Lèo), xây dựng đình (Dĩnh Thép), chữa nhà thờ (Tân An).
Khi dân trong vùng đói kém, ông sẵn sàng xuất thóc giúp hoặc cho vay. Nhân dân một số làng mang ơn, thường đưa lễ vật tới biếu, ông vui vẻ nhận chỉ để duy trì tình hoà hiếu, tịnh không bao giờ có ý sách nhiễu. Trong những ngày vui của đồn Phồn Xương, ông tha thiết mời nhân dân tói chia vui như trong dịp khánh thành ngôi đình 8 mái trong đồn điền.
Những tài năng và đức tính trên đây đã khiến cho Đề Thám trở thành một thủ lĩnh có uy tín rất lớn.
Đề Thám rất giỏi trong việc dựa vào địa hình, địa vật tự nhiên để xây dựng những công sự đạt hiệu quả chiến đấu cao. Năm 1890, Đề Thám cùng nhóm nghĩa quân của ông đã xây dựng ở thung lũng Hố Chuối một hệ thống công sự rất công phu. ở công sự này, tháng 12 năm 1890, Đề Thám cùng với trên dưới 100 nghĩa quân đã đánh bại 3 cuộc tấn công của địch đông hàng ngàn người, có đại bác yểm trợ và do những sĩ quan cao cấp có tài chỉ huy. ở Đồng Hom tháng 3 năm 1892, với vài chục nghĩa quân, dựa vào hệ thống công sự dã chiến đào ở ngọn đồi phía Đông, Đề Thám đã bắn chết ngay hàng chục tên lính Pháp và tay sai chỉ bằng một loạt đạn đầu, khiến kẻ địch hết sức hoảng hốt.
Trong khi đào công sự, Đề Thám thường áp dụng mấy nguyên tắc sau đây:
1. Công sự luôn luôn được đào ở sườn hoặc đỉnh đồi để chiếm lợi thế.
2. Tuyệt đối không phát quang nơi đào công sự, hắt đất về phía sau không đắp bờ ở mép trước, để giữ hoàn toàn bí mật, không để cho địch có thể phát hiện công sự từ xa mà chỉ biết có công sự khi đã đến gần.
3. Công sự đào theo hình vành khăn hoặc hình móng ngựa. Với loại công sự này, nghĩa quân có một góc bắn rất rộng, có thể kiềm chế địch ở tất cả mọi hướng. Công sự thường được đào theo một hệ thống tam giác với khoảng cách gần khiến có thể hỗ trợ cho nhau khi chiến đấu.
4. Xung quanh tất cả các công sự, Đề Thám đều lợi dụng cây rừng để lập những hàng rào nhiều lớp. Lớp ngoài cách công sự chừng 20m. Kẻ địch khi tiếp cận công sự buộc phải dừng lại để xử lý. Đó là lúc thuận lợi để nghĩa quân bằng loạt đạn đầu hạ địch. Lớp rào thứ hai ở ngay sát mép công sự để kê súng và cản địch có hiệu quả khiến chúng không thể giao chiến bằng lưỡi lê.
Các sĩ quan trong quân đội Pháp đã từng giao chiến với Đề Thám đều ca ngợi tài năng này của Đề Thám.
Đề Thám cũng đã xây dựng cho mình và cho nghĩa quân một cách đánh độc đáo. Đề Thám không bao giờ dùng toàn bộ lực lượng của mình đánh đối mặt với kẻ thù. Mỗi khi bị địch tấn công, sau khi nổ súng tự vệ, Đề Thám đều chia lực lượng của mình thành từng nhóm nhỏ, di chuyển nhanh vào rừng rậm, chuẩn bị sẵn sàng trận địa chờ địch. Kẻ địch buộc phải chia nhỏ lực lượng, không đem theo pháo len lỏi vào rừng để tiếp cận nghĩa quân. Chỉ khi địch đến gần các công sự đã bố trí sẵn chừng vài chục mét, phơi mình trước họng súng đã ngắm sẵn của mình, nghĩa quân mới nổ súng. Sau khi hạ địch bằng loạt đạn đầu, nếu địch còn mạnh, nghĩa quân nhanh chóng rút sang một địa điểm khác. Khi địch tới, sự việc lại diễn ra như lần đầu. Sau một và lần như vậy, kẻ địch bị tiêu hao chán nản phải rút. Trong hoàn cảnh bị bao vây quá ngặt, Đề Thám thường cho nghĩa quân chia nhỏ thành từng tốp vài ba người, tạm ẩn náu trong dân hoặc ở những nơi kín đáo để tránh địch. Kẻ địch mất đối tượng tấn công đành phải rút. Sau khi địch rút, nghĩa quân tụ tập lại, sửa sang công sự, sản xuất lương thực, tuyển mộ thêm người để tăng cường lực lượng, sẵn sàng đánh kẻ địch nếu chúng lại kéo đến. Với cách đánh linh hoạt, cơ động và thông minh ấy, Đề Thám đã hạn chế tối đa sức mạnh của địch, bắt địch phải đánh trong thế bất lợi, và phát huy tối đa chỗ mạnh của mình, tới mức một có thể chọi mười hoặc hơn nữa, đã làm thất bại hầu hết các chiến dịch đàn áp của Pháp do những tướng tá có tài chỉ huy./.

                              Minh Như