Skip to main content

Sản xuất chè hữu cơ - Thuận lợi cho đầu ra

Ngoài “đặc sản” gà đồi thơm ngon, huyện Yên Thế còn được biết đến với sản phẩm chè xanh nổi tiếng. Đây là vùng chè lớn nhất của tỉnh Bắc Giang, đã và đang có bước chuyển biến mới trong phương thức sản xuất, phát huy được tiềm năng lợi thế vùng và nâng chất lượng sản phẩm lên tầm mới. Đặc biệt trong năm 2018, Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Giang đã triển khai mô hình sản xuất chè hữu cơ tại nơi đây. 
Gắn bó hàng chục năm với người dân địa phương, chè đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân tại các xã Xuân Lương, Canh Nậu, Đồng Tiến, Đồng Vương, Tam Tiến… Ban đầu chỉ là những vườn chè nhỏ vài hộ trồng, thấy hiệu quả dần dần mở rộng thành nhiều hộ với diện tích lên tới chục ha rồi trăm ha, nay là vùng sản xuất chè hàng hóa tập trung quy mô 522 ha trên toàn huyện, nhiều nhất ở xã Xuân Lương 245 ha, Canh Nậu khoảng 55 ha… Tuy nhiên phương thức trồng chè chủ yếu là canh tác truyền thống, năng suất và chất lượng chè chưa thực sự tương xứng với tiềm năng vùng. Trong đó có số ít hộ sản xuất chè theo VietGap, một số hộ sử dụng phân bón sinh học và thuốc trừ sâu sinh học do doanh nghiệp, công ty hỗ trợ để sản xuất chè hữu cơ nhưng là mô hình tự phát, quy mô nhỏ lẻ, manh mún.
Ông Nguyễn Quang Hùng, PGĐ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Giang cho biết: “Năm 2018, Trung tâm khuyến nông tỉnh triển khai mô hình sản xuất chè hữu cơ tại Yên Thế. Kết quả, năng suất trung bình đạt 4,5 tạ chè khô/ha/lứa. Mặc dù năng suất tương đương nhưng do chất lượng sản phẩm cao hơn hẳn nên giá bán trên thị trường của chè hữu cơ cũng cao hơn khoảng 20% so với sản phẩm chè đại trà. Tuy nhiên sản xuất chè hữu cơ đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, kĩ thuật trồng, chăm sóc cũng khắt khe hơn so với trồng chè đại trà mà bà con nông dân đang sản xuất”.
Tháng 4/2018, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Giang phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Yên Thế thực hiện mô hình liên kết sản xuất chè hữu cơ quy mô 09 ha tại hai xã Xuân Lương và Canh Nậu. Với 36 hộ tham gia mô hình được hỗ trợ 50% phân bón hữu cơ sinh học và 50% thuốc trừ sâu sinh học. Người dân tham gia được tập huấn kỹ thuật về sản xuất chè hữu cơ. Vốn quen với phương thức canh tác tự do bao đời, trồng chè phải bón phân lân hóa học, phun thuốc trừ sâu thì chè mới có năng suất nhưng nay không dùng thuốc bảo vệ thực vật, không dùng phân kích thích mà phải chăm sóc chè theo đúng quy trình kỹ thuật an toàn, rạch rãnh đúng kích thước, bón phân theo ngày quy định, đảm bảo thời gian cách ly trước khi xuất bán, khó có thể hiệu quả. Song nhờ sự chỉ đạo, hướng dẫn tỉ mỉ của cán bộ khuyến nông, từng bước… nhiều hộ dân trong bản đã hiểu và thấy được lợi ích thực sự của phương thức canh tác chè hữu cơ. Giờ đây khi ra đồng hay lên đồi, mọi người không còn cảm thấy mệt mỏi, choáng váng, thay vào đó là cảm giác khoan khoái, an toàn bởi phân bón và thuốc trừ sâu sử dụng đều có nguồn gốc sinh học. Không những vậy, chi phí giảm, năng suất tăng lên đáng kể.
Chị Chử Thị Nhiêu, Bản Ven xã Xuân Lương chia sẻ: “Từ khi tham gia sản xuất chè hữu cơ theo quy trình VietGap, được hỗ trợ phân bón, thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học sử dụng trong chăm sóc chè nên năng suất chè của gia đình tôi tăng đáng kể. Chất lượng chè cũng thơm ngon hơn, bán được giá hơn”.
Như gia đình chị Đàm Thị Sỹ ở Bản Ven thường xuyên sản xuất 7 sào chè, khi tham gia mô hình ngoài lợi ích về môi trường, chị còn thấy rõ hiệu quả kinh tế. Trước đây trung bình 1 năm chị thu hơn 1 tấn chè khô, giá bán bình quân từ 100 - 150 nghìn đồng/kg, trừ chi phí còn lãi khoảng 100 triệu đồng. Nay qua 2 lứa áp dụng phương thức canh tác hữu cơ giúp năng suất chè tăng nhẹ nhưng giá bán cao gấp rưỡi, sản phẩm thu hoạch đến đâu có khách đặt hàng đến đó nên chị Sỹ rất phấn khởi. Dự kiến lợi nhuận năm nay sẽ đạt trên 100 triệu đồng tiền lãi.
Chị Đàm Thị Sỹ, Bản Ven xã Xuân Lương bày tỏ: “Được tập huấn kĩ thuật trồng, chăm sóc chè, áp dụng vào thực tế sản xuất, tôi thấy vườn chè của gia đình tôi phát triển tốt, cây khỏe, ít sâu bệnh, chất lượng chè cũng thơm ngon hơn rất nhiều”.
Sau khi các hộ dân tham gia mô hình sản xuất chè hữu cơ, đều cảm thấy khi pha chè nước xanh trong, hương thơm tự nhiên, uống có vị chát dịu, ngọt nên được người tiêu dùng ưa chuộng. Bởi vậy, mọi người dân ở đây càng yên tâm hơn, khi chè ở quê mình vừa có màu xanh nhẹ uống vừa thơm và vị ngọt đậm.
Anh Hoàng Văn Hà, Bản Ven xã Xuân Lương cho biết: “Canh tác chè hữu cơ là phương thức phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng cũng như chính bản thân người trồng chè, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Vì vậy, bản thân tôi mong muốn các cấp có thẩm quyền tiếp tục quan tâm, hỗ trợ mở rộng diện tích chè sản xuất theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học, hướng tới phát triển bền vững”.
Hiện nay sản xuất chè ở xã Xuân Lương đã trở thành một “nghề” và đang phát triển theo hướng chuyên canh tập trung. Mô hình sản xuất chè hữu cơ của Trung tâm Khuyến nông đã giúp cho nông dân nắm rõ quy trình kỹ thuật một cách bài bản, khoa học và sản xuất an toàn. Thời gian tới UBND xã tiếp tục phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giới thiệu, cung cấp thuốc trừ sâu và phân bón sinh học cho người dân thôn, bản mở rộng diện tích sản xuất chè hữu cơ, chè VietGAP; tiếp tục phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện đưa hệ thống tưới nước tiết kiệm vào sản xuất chè theo Đề án nâng cao chất lượng sản xuất chè hàng hóa của huyện Yên Thế giai đoạn 2016-2020; liên kết với Hợp tác xã Thân Trường bao tiêu sản phẩm chè cho nông dân địa phương, tạo đầu ra ổn định.
Đ/c Ninh Quảng Nghiệp, Bí thư Đảng ủy xã Xuân Lương trao đổi: “Thời gian tới, cấp ủy, chính quyền xã Xuân Lương tiếp tục chỉ đạo các ngành, đoàn thể địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của sản xuất chè hữu cơ để từ đó mở rộng diện tích. Đồng thời góp phần giữ vững thương hiệu trên cơ sở sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGap và công nghệ bí truyền của người Cao Lan”.
Hiện nay trên địa bàn Yên Thế đã được công nhận 03 nhãn hiệu sản phẩm chè là Chè xanh bản Ven, Trà sạch Thảo Xuyên và Trà Thiên Lộc. Huyện đang tập trung thực hiện Đề án nâng cao chất lượng sản xuất chè hàng hóa giai đoạn 2016- 2020; mở rộng diện tích sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP. Tuy nhiên để sản phẩm chè vươn ra hơn nữa trên thị trường, nhất là chè hữu cơ thì cần có sự vào cuộc tích cực nhiều hơn nữa của các cấp, ngành và địa phương trong công tác chỉ đạo thực hiện, tuyên truyền và xúc tiến thương mại.
Ông Nguyễn Quang Hùng, PGĐ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Giang cho biết: “Để mô hình sản xuất chè hữu cơ được nhân rộng trên phạm vi toàn tỉnh đòi hỏi phải tập huấn kĩ thuật cho người trồng chè nhằm giúp bà con nông dân nắm được những ưu, nhược điểm của phương pháp trồng chè hữu cơ và hiệu quả mà nó mang lại. Ngoài ra, cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ, từ đó giúp hình thành và mở rộng diện tích vùng trồng chè hữu cơ”.
Đây là mô hình sản xuất chè hữu cơ đầu tiên của tỉnh được thực hiện bài bản trên quy mô lớn tập trung, có phương pháp hướng dẫn cụ thể, có theo dõi, đánh giá và tổng kết theo một quy trình nhất định. So với phương thức sản xuất chè truyền thống, mô hình sản xuất chè hữu cơ tăng hơn 12 triệu đồng/ha/lứa và có ý nghĩa lớn về hiệu quả xã hội. Mô hình mở hướng giúp nông dân địa phương tiếp cận được phương thức sản xuất chè hữu cơ và từng bước mở rộng diện tích này; tuyên truyền để người dân xung quanh cùng làm nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, an toàn cho người sản xuất, người tiêu dùng và bảo vệ môi trường./.
 
Quang Huy