Skip to main content

Hội Cựu chiến binh huyện Yên Thế đi thăm chiến trường xưa và dâng hương, viếng Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Đường 9 (Quảng Trị)

  (Tiếp theo kỳ trước)
       Thăm chiến trường xưa, nghe Cựu chiến binh Yên Thế kể chuyện chiến trường
       “Tỉnh Quảng Trị có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược ở miền Trung, Tây Nguyên và được xem là “Tiền đồn” của chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Cũng chính vì vậy mà những trận đánh, những chiến dịch diễn ra trên chiến trường Quảng Trị thường vô cùng ác liệt”. 
        Kỳ III- Chuyện kể về Chiến dịch phản công đánh bại Cuộc hành quân “Lam Sơn 719”
        . . . Còn Đại tá Cựu chiến binh Trần Xuân Toán (nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3/Sư đoàn 324, Quân khu 4), người đã trực tiếp tham gia Chiến dịch với cương vị Trợ lý Tham mưu-Tác chiến Trung đoàn thì thì bồi hồi nhớ lại: Đây là Chiến dịch phản công của Quân giải phóng miền Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Lào đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của quân đội Sài Gòn được Mỹ yểm trợ hỏa lực ở khu vực Đường 9-Nam Lào với ý đồ “Ngăn chặn việc bảo đảm hậu cần của Cộng sản Bắc Việt ngay từ gốc”. Nên từ cuối năm 1970 Mỹ đã chủ trương tiến hành cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh vào Đường 9-Nam Lào nhằm cắt đứt tuyến vận chuyển chiến lược của ta; làm cho lực lượng vũ trang ta ở miền Nam suy yếu, không thể đánh tập trung quy mô lớn trong mùa khô 1971-1972, để Mỹ dễ dàng thực hiện âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh”, giành lại thế chủ động trên chiến trường. Nhưng ta đã tổ chức Chiến dịch phản công đánh bại ý đồ của địch và giành thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược, tác động đến cục diện chiến trường. Chiến dịch diễn ra trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và tỉnh Xavanakhẹt của Lào từ 30/1-23/3/1971. Đại tá Trần Xuân Toán còn giải thích cặn kẽ: Sở dĩ Cuộc hành quân mang mật danh “Lam Sơn 719”, bởi Cuộc hành quân này được mang tên Lam Sơn; thời gian diễn ra Cuộc hành quân là năm 1971; địa bàn địch mở Cuộc hành quân là dọc theo trục Đường 9, sang Lào. Như vậy “Lam Sơn 719” là cách ghép tên gọi của Cuộc hành quân với thời gian và địa bàn mà địch sẽ mở Cuộc hành quân càn quét 
       Đại tá Trần Xuân Toán kể tiếp: Để thực hiện cuộc hành quân này, Mỹ-Ngụy đã tập trung một lực lượng lớn gồm nhiều đơn vị cơ động chiến lược, tinh nhuệ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, gồm 3 Sư đoàn (bộ binh, Dù, Thủy quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động, 2 trung đoàn, 4 thiết đoàn tăng-thiết giáp, 21 tiểu đoàn pháo binh. . . , còn lực lượng quân Mỹ thì vừa làm nhiệm vụ trợ chiến phía sau, vừa trực tiếp tham chiến cùng quân ngụy Sài Gòn với 12 tiểu đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới. Đồng thời, Mỹ-Ngụy đã huy động hơn 1000 máy bay các loại (có 500 máy bay lên thẳng, lên thẳng vũ trang). Đây là số lượng máy bay lên thẳng tham chiến lớn nhất và duy nhất trong một chiến dịch của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. 
       Để phục vụ kế hoạch hành quân, ngay từ tháng 11/1970, địch đã tiến hành một kế hoạch nghi binh lớn, tung tin chuẩn bị tiến công ra miền Bắc (Nam Khu 4) nhằm đánh lạc hướng, phân tán sự chuẩn bị và kế hoạch đối phó của ta trên hướng tấn công chính. Địch hy vọng, với kế hoạch tác chiến như trên, chúng sẽ đạt được mục đích Cuộc hành quân; nhanh chóng chặn được tiếp tế, phá được kho tàng và tránh được đụng độ, tác chiến lớn với quân chủ lực của ta.   
         Tham gia chiến dịch, về phía ta có các Sư 308, 304, 320, 324 và Sư đoàn 2, 4 tiểu đoàn tăng-thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn phòng không, một số tiểu đoàn đặc công, lực lượng các binh chủng và lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4, B5, Đoàn 559. Đối với ta thì đây là chiến trường có nhiều điều kiện phát huy sức mạnh chi viện của hậu phương, thuận lợi cho tập trung nhiều lực lượng, nhiều binh chủng đánh những trận hiệp đồng tiêu diệt lớn. Đặc biệt, khu vực này là chiến trường quen thuộc của nhiều sư đoàn chủ lực của ta và các đơn vị tại chỗ thuộc Đoàn 559. Mục tiêu của ta đặt ra cho Chiến dịch là nhằm tiêu diệt một lực lượng lớn quân địch, bảo vệ vững chắc tuyến vận chuyển chiến lược (Đường mòn Hồ Chí Minh), tạo điều kiện cho các chiến trường khác đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch. 
       Trong lúc công tác chuẩn bị chiến trường của ta đang diễn ra tích cực, khẩn trương thì ngày 27/1/1971, địch tiến hành các hoạt động nghi binh vào Nam Khu 4 và tung nhiều toán biệt kích, thám báo ra khu vực ven Đường 9 để thăm dò lực lượng ta; đồng thời cho quân nống ra 4 xã bờ Nam sông Bến Hải, dọc theo khu phi quân sự. 
       Diễn biến Chiến dịch được tổ chức thành ba đợt. Đại tá Trần Xuân Toán cho biết: 
       - Đợt 1 (từ 30/1-7/2/1971): Địch tổ chức nghi binh, điều động lực lượng, chuẩn bị và tổ chức tấn công, đánh phá ác liệt các mục tiêu ven Đường 9 và đánh sâu vào tuyến vận tải của ta ở phía Tây Bắc Đường 9 lên biên giới Việt-Lào. Ngay trong ngày đầu tiên của Chiến dịch (ngày 30/1/19971), Sư đoàn bộ binh số 9 của Mỹ đã mở trận càn dọc theo trục Đường 9, phía Nam Khu phi quân sự để nghi binh; đồng thời chiếm lại khu vực Khe Sanh làm bàn đạp cho quân ngụy Sài Gòn mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang khu vực Đường 9-Nam Lào.
       Ta triển khai thế trận chiến dịch, đánh nhỏ để tiêu hao, làm chậm bước tiến của địch.
       - Đợt 2 (từ 8/2-11/3/1971): Địch tiến quân bằng ba cánh, kết hợp với đổ bộ đường không đánh chiếm Bản Đông (Lào) và một số điểm cao ở Nam, Bắc Đường 9. Ta chặn đánh trên toàn khu vực, tập trung bẻ gãy cánh quân phía Bắc Đường 9, đập tan mọi cố gắng của địch tiến lên Sê Pôn, buộc địch phải co cụm về phòng ngự. 
      - Đợt 3 (từ 12-23/3/1971): Ta tiếp tục tiến công tiêu diệt địch ở phía Nam Đường 9, tập trung lực lượng vây ép Bản Đông. Bị uy hiếp, tấn công và tiêu hao sinh lực lớn, địch phải bỏ trận địa, bỏ xe pháo luồn rừng tháo chạy. Tuy nhiên, do tổ chức hiệp đồng vây chặn ở phía Nam không chặt chẽ nên đã có một bộ phận lực lượng quân địch chạy thoát. Nhưng ta đã kịp thời tổ chức một số đơn vị vượt sông, truy kích và bắt sống hàng trăm tàn binh. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh ra Đường 9-Nam Lào của Mỹ-Ngụy đã biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn. Các nhà bình luận quân sự đã gọi đây là “Một thảm họa lớn nhất của Mỹ và quân đội Sài Gòn”.  
       Kết quả: Sau 52 ngày đêm chiến đấu (từ 30/1-23/3/1971), Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào đã kết thúc thắng lợi. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 21.000 tên địch, bắt 1.142 tù binh (trong đó có Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Chỉ huy trưởng đơn vị biệt động quân); tiêu diệt 3 lữ đoàn, trung đoàn và 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn thiết giáp; đánh thiệt hại nặng các Sư đoàn bộ binh, dù, thủy quân lục chiến; bắn rơi và phá hủy 556 máy bay (có 505 máy bay lên thẳng); phá hủy và đánh chìm 43 tàu xuồng, 1.138 xe cơ giới (có 528 xe tăng và xe bọc thép) và thu được một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh gồm máy bay, xe tăng, xe quân sự, pháo, cối, các loại súng đạn, quân trang quân dụng và đồ dùng quân sự. Như vây, trong chiến dịch này, ta đã đạt được mục tiêu đặt ra là tiêu diệt một lực lượng lớn quân địch, bảo vệ vững chắc tuyến vận chuyển chiến lược, tạo điều kiện cho các chiến trường đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch.
       Về ý nghĩa của thắng lợi, Đại tá Trần Xuân Toán cho biết: Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào có ý nghĩa chiến lược vô cùng to lớn, đã tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường, giáng một đòn nặng vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ”, đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam và mở ra thời cơ mới cho cách mạng 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. (Còn nữa)./.
 
                                                                                         Đại tá Nguyễn Thanh Bình