Skip to main content

Chính phủ ban hành nghị định mới về quản lý thuê bao di động trả trước

Ngày 24/4/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 15 của Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 6/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông và Điều 30 của Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. 
Theo thống kê của Bộ Công an, giữa năm 2016 có hơn 75% thông tin của thuê bao di động bị sai, có nghĩa là có hơn 80 triệu thuê bao thông tin sai, tạo điều kiện cho SIM kích hoạt sẵn, chưa ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông... Thêm vào đó, mức xử phạt cho vấn đề này còn quá nhẹ, tối đa chỉ có 70 triệu đối với 500 thuê bao thông tin sai trở lên, đây là vấn đề  rất đáng lo ngại. Trên có sở đó, tháng 8/2016, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì xây dựng Nghị định 49/2017/NĐ-CP, đồng thời nghiên cứu hạ tầng pháp lý ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của doanh  nghiệp viễn thông và các điểm đăng ký thuê bao.
Nghị định 49/2017/NĐ-CP đã cố gắng  khắc phục kẽ hở pháp lý, đưa  ra biện pháp triển khai hiệu quả, khả thi, hỗ trợ cả người sử dụng, doanh nghiệp viễn thông và cơ quan  quản lý nhà nước. Đây là một hành lang pháp lý hiệu quả, khả thi để có cơ sở dữ liệu thông tin thuê bao đầy đủ và đúng quy định. Nghị định sẽ thay thế hoàn toàn Điều 15 Nghị định 25, Điều 30 Nghị định 174 của Chính phủ và Thông tư 04 của Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
Theo đó, Nghị định 49 có 10 quy định quan trọng và mới nhất, đó là thống nhất nơi bán SIM và đăng ký thông tin thuê bao; không còn đại lý bán SIM; bỏ bản khai đăng ký thông tin thuê bao; Bỏ lưu trữ bản giấy; Không giới hạn đăng ký số lượng SIM cho một người dùng, nhưng phải đủ thông tin thuê bao và chính chủ (điểm 7 Điều 15). Cá nhân chỉ đăng ký cho mình, con, người giám hộ (điểm b khoản 9 Điều 15). Từ SIM thứ 4 trở đi ký hợp đồng theo mẫu (điểm b khoản 7 Điều 15). Đối với tổ chức cần phải có danh sách cá nhân kèm giấy tờ bản chính của từng cá nhân (điểm b khoản 3 Điều 15) và cung cấp lại thông tin thuê bao khi chuyển quyền sử dụng (điểm d khoản 9 Điều 15); doanh nghiệp viễn thông có quyền cắt hợp đồng đối với thuê bao không cung cấp lại thông tin thuê bao; Bổ sung điểm cung cấp dịch vụ viễn thông di động và chỉ doanh nghiệp được làm điểm ủy quyền; doanh nghiệp viễn thông chịu trách nhiệm toàn bộ; tăng mức xử phạt doanh nghiệp viễn thông; bổ sung hành vi và đối tượng phạt. Cùng với đó, việc nâng mức phạt, mức phạt tối đa với thuê bao là 1 triệu đồng/số thuê bao đối với doanh nghiệp; điểm cung cấp dịch vụ viễn thông lên đến 20.000.000đ/điểm; mức phạt doanh nghiệp có  thể lên 200 triệu đồng; người đại diện doanh nghiệp có thể bị phạt tới 100 triệu đồng (Điều 2 – Nghị định 49).
Theo Nghị định 49/2017/NĐ-CP các doanh nghiệp di động cần nghiên cứu kỹ Nghị định 49; thiết lập các điểm cung cấp dịch vụ cố định và di động; tổ chức lại hệ thống kinh doanh; thiết kế lại cơ sở dữ liệu, phần mềm quản lý; ban hành quy trình nội bộ, đào tạo nhân viên; bổ sung chức năng dịch vụ 1414 và website cho phép chủ thuê bao tra cứu danh sách các số thuê bao đang sử dụng (điểm I khoản 8 Điều 15); bổ sung vào hợp đồng theo mẫu trường hợp thanh lý hợp đồng, chấm dứt cung cấp dịch vụ khi thuê bao không cung cấp lại  thông tin thuê bao (điểm g khoản 8 Điều 15).
Nghị định cũng chỉ rõ đối tượng vi phạm có 36 hành vi quy định xử phạt thì 27 hành vi chỉ rõ đối tượng bị xử phạt doanh nghiệp viễn thông di động, 25 hành vi phạt chính doanh nghiệp, 2 hành vi phạt người đại diện theo pháp luật. Mức phạt được điều chỉnh linh hoạt và tối đa 200 triệu đồng đối với mỗi hành vi vi phạm chứ không bị quy định thành khung cứng như Nghị định số 174/2013/NĐ-CP hay hầu hết các Nghị định khác, ngoài ra các chức danh cũng xử phạt được ở mức tối đa theo thẩm quyền của mình.
Cũng theo Nghị định này, doanh nghiệp viễn thông di động phải chịu trách nhiệm về các vi phạm của Điểm cung cấp dịch vụ viễn thông được ủy quyền. Nếu các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông không thực hiện đúng quy định như không có biển hiệu, không có trang thiết bị, nhập thông tin sai, ảnh mờ không rõ thông tin.. .Cách thức xử lý vi phạm đối với những trường hợp này là ban hành quyết định thanh tra đối với chi nhánh doanh nghiệp di động, kiểm tra đối với từng điểm cung cấp dịch vụ viễn thông được ủy quyền, ghi nhận thành biên bản về các điểm thực hiện không đúng.
Về nội dung xử lý người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp viễn thông di động. Trước đây, chỉ Thanh tra Bộ mới có thể truy cập vào hệ thống kỹ thuật của doanh nghiệp để kiểm tra thông tin thuê bao, Sở Thông tin và Truyền thông không có quyền này do vậy đã gặp nhiều khó khăn trong công tác thanh tra. Nghị định 49/2017/NĐ-CP được ban hành, thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông hoàn toàn có quyền kiểm tra trong hệ thống kỹ thuật, cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp thông tin của các thuê bao được đăng ký, cung cấp dịch vụ trên địa bàn quản lý của tỉnh, thành phố.
Nghị định mới cũng chỉ rõ chủ thể bị tịch thu tiền trong tài khoản chính của SIM vi phạm là doanh nghiệp viễn thông di động và tịch thu trong các trường hợp, sim được tịch thu từ các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông có thông tin không đúng, giao kết hợp đồng không đúng, phát hiện các trường hợp sử dụng phần mềm để làm giả chứng minh thư hàng loạt.
Ngoài ra, khi thực hiện giám sát thu hồi SIM kích hoạt sẵn cho thấy thông tin thuê bao do các điểm ủy quyền hầu hết là sai. Đối với các SIM đã bị khóa nhưng được đăng ký tại chính cửa hàng của doanh nghiệp cũng vẫn sai, điều đó cho thấy doanh nghiệp vẫn chưa chấp hành nghiêm. Do đó, khi áp dụng Nghị định 49/2017/NĐ-CP doanh nghiệp sẽ bị xử phạt nặng hơn, chỉ cần 200 thuê bao sai là đã bị phạt 200 triệu đồng, đặc biệt số tiền tịch thu từ tài khoản chính sẽ rất lớn.
Có thế thấy rằng, Nghị định 49/2017/NĐ-CP được sửa đổi theo hình rút gọn, Chính phủ chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng các nội dung của Nghị định với tinh thần cẩn thận, trách nhiệm cao. Để Nghị định được thực thi hiệu quả thì các đơn vị liên quan, các doanh nghiệp viễn thông cần tiếp tục nâng cao nhận thức sâu sắc của Nghị định 49/2017/NĐ-CP tới toàn thể xã hội, tạo môi trường viễn thông an toàn, lành mạnh hóa. Đặc biệt là phải thực hiện Nghị định 49/2017/NĐ-CP, nội dung kích hoạt SIM trả trước và thông tin thuê bao di động trả trước triệt để, có kết quả cao nhất. Các doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện các kế hoạch triển khai, tăng cường kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ, chú trọng ứng dụng CNTT, tự động hóa trong việc cập nhật, rà soát lại thông tin thuê bao. Đặc biệt các doanh nghiệp rà soát thật kỹ để quản lý khách hàng, đồng thời làm tốt công tác truyền thông đến tất cả người sử dụng như mở hội nghị khách hàng, in tờ rơi...
 
                                                             Thanh Phương